Trang Việt Hán Nôm

… 香江岸覩落霞孤鷺、 挂東西今古一壺

CHỮ THÁI VIỆT NAM TRONG TÁC PHẨM THANH HÓA QUAN PHONG

Tạp chí Hán Nôm số 2 (99) 2010  (tr.24 – 30)


VỀ CHỮ THÁI VIỆT NAM TRONG TÁC PHẨM

THANH HÓA QUAN PHONG

Về khả năng tồn tại của chữ Việt cổ, giáo sư Bửu Cầm trong tập bài giảng “Nghiên cứu chữ Nôm” ngay ở phần mở đầu mục “I. Nguồn gốc chữ Nôm”, đã đưa ra một kiến giải, dựa vào ý kiến của Vương Duy Trinh[1] trong sách “Thanh Hóa quan phong”, như sau:

“Có người cho rằng, về thời đại thượng cổ, dân tộc Việt Nam đã có một thứ văn tự riêng mà người Mường ở Thanh Hóa hiện nay còn dùng ([2])

Thuyết trên đây có tương quan với một thuyết nhân chủng học chủ trương: người Việt Nam và người Mường nguyên là một chủng tộc, nhưng sau khi có cuộc tiếp xúc với người Phương Bắc, những người Việt ở đồng bằng, chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa, còn người Việt bất hợp tác với dị tộc, rút lui vào rừng núi, tức là người Mường bây giờ, thoát khỏi ảnh hưởng Trung Hoa và giữ được phong tục, ngôn ngữ cùng văn tự cũ…”

Chúng tôi, qua việc tham gia xây dựng font chữ chuẩn Unicode và bộ gõ cho chữ Thái, đã có vài năm nghiên cứu về chữ Thái Việt Nam, nên khi đọc văn bản ghi trong Thanh Hóa Quan Phong đã nhận ra ngay đây thực chất chỉ là một trong 8 dạng chữ Thái VN, phổ biến ở vùng núi Thanh Hóa, Nghệ An.

Xem ảnh bản chụp từ cuốn Thanh Hóa quan phong dưới đây (đã được cắt dán lại!), chúng tôi xác định đó là bảng kê 35 mẫu tự phụ âm chính của tiếng Thái Việt Nam. Chính Vương Duy Trinh cũng ghi chú rõ bằng chữ Hán: “Phụ man mẫu tự tam thập ngũ tự” (Phụ bản 35 mẫu tự của người man), như vậy Vương Duy Trinh đã khẳng định đó là chữ của người “man” chứ không phải người Việt, và khi ông phát biểu rằng đây là lối chữ của nước ta thì chỉ hàm nghĩa là của một dân tộc sống trên đất nước ta, ví dụ là người Thái VN, ông còn đèo thêm mấy từ khá rụt rè “tôi nghĩ rằng” chứ không khẳng định chính xác đó là chữ của người Việt cổ, người đầu tiên nêu giả thuyết đó là thứ chữ của người Việt cổ có lẽ là GS Bửu Cầm.

Các nghiên cứu về người Thái cho biết họ vốn gốc rễ tại vùng núi A Nhĩ Thái (Altai) ở Trung Á thiên di dần về phía nam trong khoảng hàng ngàn năm, một nhánh lập lên vương quốc Thái Lan ngày nay từ khoảng thế kỷ 13-14 [3], còn nhánh người Thái Việt Nam thì tách ra khá xa, khoảng thế kỷ 10-11 đã theo thung lũng sông Hồng tới định cư vùng Mường Lò (Nghĩa Lộ), rồi vượt qua dãy Fanxipăng sang vùng Mường Thanh (Điện Biên) và tỏa khắp vùng Tây Bắc và miền núi Thanh Hóa, Nghệ An, một số sang tận Lào. Chữ Thái vốn bắt nguồn từ chữ Sanskrit (chữ Phạn) gốc rễ ở Ấn độ, thuộc nhánh Sanskrit phương Nam, chịu ảnh hưởng từ chữ Khmer, như chính người Thái Lan thừa nhận, và sự thực lịch sử là vương quốc Thái Lan thành lập sau đất nước Chân Lạp của người Khmer đến hơn nghìn năm… Theo Yukti Mukdawijitra[4], chữ viết Thái Lan cũng như Thái VN hình thành khá muộn, khoảng thế kỉ 10-11 mới bắt đầu tách khỏi nhánh Pallava-Mới của nhóm Pallava Đông Nam Á. Pallava tức là nhóm phương Nam của chữ Phạn Sanskrit, nói như vậy không hẳn là trước thế kỉ 10 người Thái chưa có chữ viết, mà có lẽ họ dùng chữ Phạn gần nguyên gốc.

Phần lớn người Việt khi nhìn những ký hiệu loằng ngoằng của chữ Thái VN đều không biết là thứ chữ gì, phát “hoảng”, mất hết tự tin, nên có thể thụ động ngả theo ý kiến của các vị học giả, nhất là đó lại là những người có uy tín và khả kính như Gs Bửu Cầm. Nên chúng tôi thấy cần giải thích đôi chút về các chữ Thái trong hình chụp từ cuốn Thanh Hóa quan phong ở trên:

Đọc theo dòng từ trái sang phải:

-                     Chữ đầu tiên ở góc trên bên trái Vương Duy Trinh chú âm bằng chữ Nôm là “Tô bò” 蘇 𤙭 (dùng chữ Nôm chỉ con bò tức là bộ “ngưu牛 ” bên chữ “bô甫 ” ), đây chính là tên gọi phụ âm B trong tiếng Thái VN. Người Thái gọi chữ phụ âm là “Tô” còn nguyên âm là “May”, “Tô” trong tiếng Thái nghĩa là “con”,  “cái”…  ví dụ “tô ma” là con chó, chính người Việt cũng hay gọi các chữ cái La Tinh (quốc ngữ) là “con” chữ. Trong bảng ký tự chữ Thái VN đã đăng ký với tổ chức Unicode con chữ đó có tự dạng như sau , nhìn giống chữ V của tiếng Việt, so hình dáng thấy không khác gì nhiều với con chữ mà Vương Duy Trinh ghi chép từ hơn một thế kỷ trước.

-                     Chữ thứ 2, Vương Duy Trinh chú âm bằng chữ Nôm là “Tô đo” 蘇 𢵋 (chữ Nôm đo : bộ thủ才 bên chữ “đô” 都), chính là tên gọi phụ âm Đ của tiếng Thái VN. Trong bảng ký tự chữ Thái VN đã đăng ký với tổ chức Unicode con chữ đó có tự dạng như sau , tự dạng cũng không khác mấy so với con chữ của Vương Duy Trinh ghi lại, chỉ có cái “râu” chìa ra bên trái thì bị thu ngắn bớt.

-                     Chữ thứ 3, Vương Duy Trinh chú âm bằng chữ Nôm là “Tô cô” 蘇姑, chính là tên gọi phụ âm K của tiếng Thái VN. Trong bảng ký tự chữ Thái VN đã đăng ký với tổ chức Unicode con chữ đó có tự dạng như sau , so sánh thấy dạng Unicode có thêm một nét “khởi bút” kéo từ trên xuống, điều này thực ra cũng không có gì lạ, vì kiểu chữ đăng ký với Unicode dựa vào chữ Thái đen vùng Mai Châu, Sơn La chứ không phải chữ Thái vùng Thanh Hóa-Nghệ An, mà theo Cầm Trọng[5] thì chữ Thái VN có đến 8 loại hình phân bố trong các địa phương khác nhau[6].

-                     Với các chữ khác trong bảng, về căn bản cũng giống 3 trường hợp trên, tức là 2/3 giống với kiểu chữ Thái đen đã đăng ký với Unicode chỉ có 1/3 có sai lệch, ít hay nhiều, về cách viết.

-                     Đặc biệt trong bảng có 2 con chữ hình dáng khá đặc biệt, nên dễ nhận ra, đó là chữ mà Vương Duy Trinh phiên là “Tô ô” 蘇烏 (chữ thứ 3 dòng thứ 3, nhìn giống chữ Hán “nhật日” viết dạng Lệ thư tròn cạnh, dạng Unicode của nó là , đó là phụ âm “O” của tiếng Thái[7]) và “Tô hô” (chữ thứ 3 dòng thứ 5, nhìn giống dấu vô cực nhưng không kín nét, đó là phụ âm “H” của tiếng Thái, dạng Unicode là )

-                     Ngoài ra, trong phần sưu tầm tác phẩm ghi bằng tiếng Thái mà Vương Duy Trinh chú âm (không có trong bảng 35 mẫu tự ở trên) chúng tôi còn thấy một con chữ có tự dạng khá phức tạp và cực kỳ đặc biệt chỉ có trong các văn bản chữ Thái VN, đó là chữ “Ho hơi” thường dùng mở đầu đoạn văn trong các văn bản chữ Thái cổ. Vương Duy Trinh cũng đã chú rất chính xác âm đọc Nôm của nó là “hơi” tức là chữ Hán “hi” thêm bộ khẩu (xem hình dưới).

Gần đây, lại có nhiều học giả lặp lại giả thuyết của GS Bửu Cầm như GS Lê Trọng Khánh và nhà nghiên cứu Đỗ Văn Xuyền trong công trình nghiên cứu về chữ Việt cổ (Xem : http://hodovietnam.vn/index.php?option=com_content&task=view&id=662&Itemid=33),   hoặc của một tác giả chưa biết tên trên trang mạng sau: http://www.omniglot.com/forum/viewtopic.php?f=17&t=32&start=40 . TS-nhà nghiên cứu Phật học Lê Mạnh Thát cũng đưa ra một số tư liệu chứng minh người Việt cổ đã có chữ viết từ lâu, nhưng ông đi theo một hướng khác mấy vị trên, và không viện dẫn tới cuốn Thanh Hóa quan phong, nên trong phạm vi bài này chúng tôi không đề cập.

Quan điểm của chúng tôi về  vấn đề này là không thể chỉ từ tình cảm dân tộc mà nhắm mắt đề cao “chữ Việt cổ” khi chưa có cơ sở khoa học, như việc giám định niên đại các văn bản chữ cổ mà các tác giả trên sưu tầm được[8], cũng như nghiên cứu kỹ tự dạng, hình dáng, cung cách viết các con chữ mà các tác giả nói trên đơn phương đưa ra và khẳng định đó là chữ Việt cổ.

Sau đây là một văn bản minh họa chữ Việt cổ mà các tác giả trên viết ra, ảnh lấy từ trang WEB đã dẫn ở trên:

Nếu muốn minh họa chữ viết tiếng Việt (nếu có !) thời Hai Bà Trưng hai ngàn năm trước, ghi bằng thứ chữ ghi âm giống chữ Phạn, thì nên chú ý rằng ngay ngữ âm tiếng Việt thời Trần cách đây 700-800 năm cũng đã khác ngày nay rất nhiều, như câu thơ “tìm mai theo đạp bóng trăng” có nhà nghiên cứu đã khôi phục theo ngữ âm cổ thời Trần-đầu Lê là “xìm môi xeo tạp poóng blăng”, như vậy chữ “trời” trong bản hịch viết theo âm tiếng Việt cổ sẽ là “blời”, chứ không nên viết theo ngữ âm thế kỷ 21 hiện nay là “trời”. Ngoài ra đặc điểm của họ văn tự ghi âm Sanskrit cổ xưa là viết liền trên một dòng chứ không tách rời các vần như văn bản minh họa ở trên.

Nhân tiện người viết bài này xin dùng kiến thức chữ Thái của mình thử đọc ba chữ đề bài trong bài hịch viết bằng thứ chữ Việt cổ đó:

-                     Từ thứ nhất: Chữ cái đầu là phụ âm “H” tiếng Thái, chữ thứ 2 nhìn giống dấu mũ ^ là nguyên âm “I” tiếng Thái, chữ thứ 3 là phụ âm “K” , vậy là “HIK” tức là “hịch” ?

-                     Từ thứ hai: Chữ cái đầu kết hợp dấu mũ lộn ngược viết ở trên từ (tiếng Thái gọi là may khít) thành nguyên âm “Ơ” Thái, chữ thứ 2 là phụ âm “KH” Thái, chữ thứ 3 là phụ âm J (“tô DO”), khi đứng cuối từ thì phụ âm J tiếng Thái đọc như bán nguyên âm I cuối từ tiếng Việt, vậy đó là chữ “KHƠI” tức “khởi” ? Chú ý nguyên âm “Ơ” Thái luôn viết đầu từ, trước cả phụ âm đầu.

-                     Từ thứ ba: Chữ cái đầu là phụ âm “tô ngo” tức “NG”, chữ thứ 2 là dấu ^ tức “I” đã nói trên, chữ thứ 3 nhìn như dấu ngã là nguyên âm A tiếng Thái (thực ra người Thái không viết nó nằm ngang như trong hình mà nằm hơi nghiêng như dấu \ ) vậy đó là chữ “NGIA” tức “nghĩa” ? Về vần “IA” này thực ra tiếng Thái có một con chữ riêng để ghi chứ không viết ghép “I” với “A”.

Từ các thông tin và phân tích ở trên có thể rút ra các kết luận:

1. Thanh Hoá quan phong là nói về chữ dân tộc Thái.

2. Chữ Thái mới phát triển từ khoảng thế kỉ 10-12, trong khi chữ Việt cổ nếu có từ thời Văn Lang thì phải có niên đại cỡ 500-1000 năm trước công nguyên, cách xa nhau đến gần 2000 năm.

3. Chữ Việt cổ chỉ có thể tồn tại nếu có chính quyền hỗ trợ và có nhiều tác phẩm lưu giữ trong dân gian, trong khi hiện tại không có bằng chứng thực tế còn lại [9], mọi bằng chứng đã có trên văn bản mà những người phát hiện “chữ Việt cổ” đưa ra đều là chữ Thái, chưa có hình dạng một từ Việt cổ nào được ghi nhận.

4. Đặc điểm cách ghi âm chữ Thái dễ dàng cho biểu diễn phát âm tiếng Việt, vì tiếng Thái cũng là ngôn ngữ đơn âm tiết và có nhiều thanh điệu như tiếng Việt, nhưng không thể vì thấy dễ ghi âm tiếng Việt, như trong bản minh họa bài hịch trên, mà nói chữ Thái là chữ Việt cổ.

Huế 21/10/2009
Phan Anh Dũng


[1] VƯƠNG DUY TRINH:  hiệu Đạm Trai; sống khoảng cuối thế kỉ 19-đầu thế kỷ 20. Quê: làng Phú Diễn, huyện Từ Liêm, nay thuộc Hà Nội. Đỗ Cử nhân, làm Tổng đốc Thanh Hoá. Tác phẩm: “Thanh Hoá quan phong”, “Thanh Hoá kỉ thắng”.

[2] Giáo sư Bửu Cầm có trính dẫn từ cuốn “Thanh Hóa quan phong” nguyên văn như sau:  “tỉnh Thanh Hóa, một châu quan có chữ là lối chữ thập châu đó. Người ta thường nói rằng nước ta không có chữ. Tôi nghĩ rằng không phải, thập châu vốn là đất nước ta, trên châu còn có chữ, lẽ nào ở dưới chợ lại không? Lối chữ châu là lối chữ nước ta đó” (Vương Duy Trinh 王 維 楨 Thanh Hóa quan phong 清 化 觀 風  , Hải dương, Liễu văn Đường 柳 文 堂  khắc in , năm Thành Thái 成 泰  thứ 16, Giáp Thìn 甲 辰  1904, tờ 69b).

[3] Theo bài của Prasert Na Nagara tại Hội thảo quốc tế về chữ Thái Việt Nam, Hà Nội, 11-2005.

[4] Theo bài trong Hội thảo quốc tế về chữ Thái Việt Nam, Hà Nội, 11-2005 của Yukti Mukdawijitra, khi đó là nghiên cứu sinh người Thái Lan ở Viện Việt Nam học và khoa học phát triển,.

[5] Nguyên chủ nhiệm Chương trình Thái học VN, mới mất năm 2007.

[6] Trích báo cáo của Cầm Trọng tại Hội nghị Quốc tế về chữ Thái VN, Hà Nội 11/2005: “Có lẽ do trước đây, kém tiếp xúc giữa các vùng nên người Thái đã cho ra đời 8 loại hình kí tự cổ khác nhau. Tuy nhiên, cả 8 loại hình kí tự ấy đều bén rễ từ một gốc chữ Sanskrit (Ấn Độ) thông qua mẫu tự Khmer. Chúng hoàn toàn giống nhau về nguyên tắc dùng phụ âm, nguyên âm để ghép vần ghi được âm tiết Thái. Tám loại hình kí tự cổ đó là:

1.       Chữ Thái Đen ở các huyện thuộc tỉnh Lai Châu, Sơn La, Yên Bái, Lào Cai.
2.       Chữ Thái Trắng ở huyện Phong Thổ.
3.       Chữ Thái Trắng ở huyện Mường Lay, Mường Tè (Lai Châu cũ).
4.       Chữ Thái Trắng ở huyện Phù Yên.
5.       Chữ Thái Trắng ở huyện Mộc Châu (Sơn la), Mai Châu, Đà Bắc (Hoà Bình).
6.       Chữ Thái Đen – Tay Thanh ở miền Tây Thanh Hoá và Nghệ An.
7.       Chữ Thái ở Châu Quỳ (Ngệ An).
8.       Chữ Thái mang tên Lai Pao ở huyện Tương Dương (Nghệ An).

[7] Chữ “O” tiếng Thái rất đặc biệt, vì ngoài chức năng ghi nguyên âm “O” (nếu đi sau 1 phụ âm), nó còn dùng như một phụ âm câm đứng đầu các vần không có phụ âm đầu. Sở dĩ cần có nó vì các nguyên âm chữ Thái chỉ là các dấu nhỏ có thể “đính” cả 4 phía trên dưới, trái phải của phụ âm đầu, lên cần có 1 phụ âm “câm” chỉ làm nhiệm vụ “đeo” các dấu nguyên âm đó khi vần không có phụ âm đầu như  “ải”=anh.

[8] Có tác giả đề cập đến chữ viết trên Bãi đá cổ ở Sapa, cũng cho rằng đây là chữ Việt cổ. Nhưng lại không đưa ra các bằng chứng rằng đây là vùng cư trú của người Việt cổ (!). Xem: http://vanhac.org/06/vai-net-ve-cong-trinh-chu-viet-co-cua-giao-su-le-trong-khanh.html

[9] Theo truyền thuyết và dã sử, từ thời xa xưa người Việt cổ đã có chữ viết riêng, sử sách Trung Quốc đã mô tả hình dạng thứ chữ viết này trông như “đàn nòng nọc đang bơi”, nên gọi tên là chữ “khoa đẩu”, nhưng chung quy vẫn chỉ là truyền thuyết, chứ không có bằng chứng thực tế.

About these ads

11 responses to “CHỮ THÁI VIỆT NAM TRONG TÁC PHẨM THANH HÓA QUAN PHONG

  1. khăm kẹo Tháng Hai 13, 2011 lúc 8:01 sáng

    tôi đồng ý với ý kiến của tác giả bài này.rõ ràng đấy là chữ thái việt nam.cớ sao lại biến thành việt cổ?hay các vị cho rằng người thái kém phát triển về văn hóa nên người thái đã vay mượn chữ việt cổ để ghi âm ngôn ngữ mình?những người thái như tôi không chấp nhận ý kiến cho rằng những kí tự các vị gán cho cái danh việt cổ ấy là đúng.đúng phải là chữ thái .
    người biết chữ thái sẽ nhận ra điều đó.

  2. chân lang Tháng Ba 13, 2012 lúc 12:37 sáng

    Các bạn cần nhìn nhận về chữ việt cổ một cách khoa học hơn. Tại sao người Thái khẳng định đó là chữ Thái trong khi đó đến thế kỉ 10 trở đi mới có chữ viết? Chữ viết của một dân tộc không phải là một thời gian ngắn là có thể sản sinh ra được. Hơn nữa đây là loại kí tự biểu thanh ghi âm vị rất tiến bộ. Vậy nói như các bạn thì người Thái lấy chữ của ai để viết? Các bạn có thể đúng nhưng chưa đủ. Sự thật là văn tự của dân tộc VN bị nhà Minh-Thanh hủy diệt suốt gần nghìn năm, làm sao còn? Cứ chỉ biết khẳng định người Thái -chữ Thái mà không có kiến thức về ngôn ngữ, lịch sử thì phát biểu đó là thiếu hiểu biết. Còn nhiều điều mà từ vốn chữ viết cổ này ta sẽ thấy lí do vì sao nó lại được gọi là “hỏa tự” chữ không phải là khoa đẩu. Người Thái không thể lí giải nối rất nhiều yếu tố về văn minh chữ viết, văn hóa vùng miền…Chữ viết không di truyền, bạn cũng không thể chứng minh rằng từ gốc người Thái đã sáng tạo loại chữ đó???

  3. fanzung Tháng Ba 13, 2012 lúc 1:45 sáng

    [Các bạn cần nhìn nhận về chữ việt cổ một cách khoa học hơn. Tại sao người Thái khẳng định đó là chữ Thái trong khi đó đến thế kỉ 10 trở đi mới có chữ viết?
    Chữ viết của một dân tộc không phải là một thời gian ngắn là có thể sản sinh ra được. Hơn nữa đây là loại kí tự biểu thanh ghi âm vị rất tiến bộ. Vậy nói như các bạn thì người Thái lấy chữ của ai để viết? Các bạn có thể đúng nhưng chưa đủ.]

    Trả lời: Bạn chưa đọc kỹ bài rồi, trong bài viết “Chữ Thái vốn bắt nguồn từ chữ Sanskrit (chữ Phạn)” bạn không tin thì cho chứng cứ bác bỏ. Trước thế kỷ 10 rất có thể người Thái dùng chữ Sanskrit nguyên gốc chứ không hẳn là “không có chữ” gì.

    [Sự thật là văn tự của dân tộc VN bị nhà Minh-Thanh hủy diệt suốt gần nghìn năm, làm sao còn?]
    Trả lời: Xem lại kiến thức lịch sử của bạn. Nhà Minh chiếm được nước ta 20 năm, còn quân Thanh vào Thăng Long chưa được một tháng đã bị Quang Trung đuổi chạy chối chết. Mà cộng cả hai nhà đó cũng không đến ngàn năm.

    [Cứ chỉ biết khẳng định người Thái -chữ Thái mà không có kiến thức về ngôn ngữ, lịch sử thì phát biểu đó là thiếu hiểu biết. Còn nhiều điều mà từ vốn chữ viết cổ này ta sẽ thấy lí do vì sao nó lại được gọi là "hỏa tự" chữ không phải là khoa đẩu. Người Thái không thể lí giải nối rất nhiều yếu tố về văn minh chữ viết, văn hóa vùng miền...Chữ viết không di truyền, bạn cũng không thể chứng minh rằng từ gốc người Thái đã sáng tạo loại chữ đó???]
    Trả lời: Nhắc lại lần nữa, chữ Thái Việt Nam có gốc Sanskrit (chữ Phạn), chứ không phải người Thái tạo ra từ đầu.
    Còn hiểu biết về chữ Thái và chữ Chăm của chúng tôi thì xem 2 trang WEB do chúng tôi xây dựng
    http://chuthai.huesoft.com.vn/
    http://chucham.huesoft.com.vn/

    * Ghi chú thêm: trang BLOG này hiện đã chuyển sang địa chỉ http://fanzung.co.cc/

  4. Lò Văn Cậy Tháng Tư 5, 2012 lúc 12:12 chiều

    Bạn cho biết người Thái còn giữ được văn bản nào viết bằng chữ Sanskrit ?

    • fanzung Tháng Tư 5, 2012 lúc 4:27 chiều

      Chắc là không còn, vì hơn 10 thế kỷ rồi ! Với điều kiện khí hậu nóng ẩm của VN thì văn bản giấy chỉ có thể tồn tại 500 năm là cùng.
      10 thế kỷ trước thì người Thái còn chưa thiên di tới vùng Tây Bắc VN, nên nếu có bia ký chữ Sanskrit thì cũng không thể tìm trên đất VN.

  5. Lường Ngọc Lan Tháng Tám 11, 2012 lúc 3:16 sáng

    Tôi cũng là nghười Thái và nghiên cứu chữ viết dân tộc mình khá kỹ càng Tôi biết ông Dũng là người Kinh tại sao lại am hiểu chữ viết dân tộc Tôi như vậy . Không phải người Thái nào cũng biết chữ và lịch sử dân tộc mìn. Thật đáng tiếc.

  6. Lường Ngọc Lan Tháng Tám 11, 2012 lúc 3:23 sáng

    Ai đó nói người Thái không đọc được văn tự cổ là sai. Chúng tôi còn nhiều nghiên cứu liên quan đến việc dùng chữ cổ , theo đó để hành lễ trong nghi thức tâm linh , người Thái cần phải biết đọc và viết chữ cổ để hành lễ chính xác.

  7. khăm kẹo Tháng Ba 20, 2013 lúc 1:30 chiều

    anh fanzung đúng là người hiểu biết,chỉ có người hiểu biết như anh mới đánh giá thật khách quan,.không như ai đó nói năng hàm hồ,về văn hoá lịch sử còn nói sai mà đi đả kích người khác , không dùng trí tuệ để suy xét, đọc bài viết không kĩ mà cũng bình luận.
    Chúc anh fanzung có nhiều sức khoẻ và nhiều bài viết hay thế này.
    Cám ơn anh nhiều !!!

  8. Trân Lang Tháng Chín 24, 2013 lúc 2:39 chiều

    Tôi chưa hoàn toàn đồng tình với tác giả Phan Anh Dũng ở nhiều điểm. Nhà Minh Thanh hủy diệt văn tự Việt và chỉ cần một thời gian thôi cũng đủ để mù chữ rồi. Thứ 2, chữ viết, sách vở là những thứ không di truyền, kể cả ngôn ngữ cũng không di truyền thì cần gì đến mấy ngàn năm mới hủy diệt? Tại sao Nguyễn Trãi lại gọi là “Bình Ngô…” mà không phải là “Bình MInh”? Vì cha ông ta lúc đó vẫn còn kí ức rõ rệt về người Ngô, nước Ngô. Anh đã tìm hiểu vì sao mà lại gọi là Ngô? Người Ngô ấy là ai ngày nay? Chữ Nho đọc theo âm Hán Việt hiện nay chúng ta đang dùng có thể chỉ mới từ thời kì của nhà nước “Nam Chiếu” ở thế kỉ 9-10 hoặc trước đó một chút. Có thể đọc theo âm Hán-Việt chính là thời kì nhà Trần từ Hồ Nam Phúc Kiến về. Vùng ấy một thời là nước Ngô chiếm và đô hộ, họ đọc loại chữ này thành âm của họ cũng giồng như người Nhật, Hàn đọc thứ chữ ấy. Tôi đã tìm hiểu và kinh ngạc khi thấy rằng tiếng Hán chính là tiếng Thái cổ chứ không phải là tiếng Thái có yếu tố Hán. Đặc biệt từ Hán Việt của người Việt phát âm lại giống hệt về âm-nghĩa của từ tiếng Thái-Tày. Chúng ta đang sở hữu loại chữ “Quốc ngữ” nhưng có phải là ta sáng tạo ra nó đâu? Người Thái hay người Mường – Kinh thì cũng cần tìm hiểu một cách khoa học và công bằng chứ không phải là cứ sở hữu thì là sở thuộc. Hơn nữa, lịch sử và các nhà khoa học cũng đã nghiên cứu và kết luận: người sống ở vùng đồng bằng và vùng ven biển sẽ có nền văn hoắ, ngôn ngữ đa dạng hơn ở vùng núi. Một chi tiết anh Dũng chưa tìm hiểu là Điện Biện là nơi có người Việt cổ ở và sáng tạo ra một nền văn minh trống đồng phong phú nhất mà ở các nơi khác chưa tìm thấy nhiều như vậy. Bảo tàng mới đưa vào được 18 trống đồng cùng thời với Cổ Loa, kiến trúc thành cổ giống y hệt Cổ Loa. Vùng Mường Luân có rất nhiều dấu tích của thành quách, tháp nhà Phật. Mà người Thái đến thế kỉ X mới đến vùng này. Đặc biệt người Thái VN không hề có ấn tượng về nhà Phật, không thờ phật, không tính lịch như người Kinh-Mường. Anh Dũng chưa biết là tiếng Thái Đen không có phụ âm “Đ” rõ rệt. Tiếng Thái không có âm vị /g/ nên đọc các âm này sẽ thành /k/ hay /kh/. Âm vị /đ/ hay /l/ là 2 cách phát âm của một đơn vị âm. Trong khi đó, tiếng Mường-Kinh có âm này tương đối phân biệt. Tôi khẳng định người Thái là chủ sở hữu của chữ viết hiện nay nhưng không phải là chủ nhân sáng tạo ra nó. Anh nghĩ thế nào khi người Mường cũng có sử dụng và sở hữu loại chữ này? Đặc biệt các phụ âm, nguyên âm, vần, thanh điệu tiếng Thái VN gần như trùng khít với các đơn vị này ở tiếng Việt và tiếng Mường? Anh đã tìm hiểu về những cuốn sử thi của người Thái chưa? Sáng tạo chữ, sử dụng chữ tức là có cách ghi lịch sử độ chính xác nhưng người Thái chỉ ghi lại bằng cách kể chuyện theo kiểu sử thi mà chưa có phong cách ghi sử theo kiểu biên niên.

    • fanzung Tháng Chín 24, 2013 lúc 6:25 chiều

      Tôi chưa hoàn toàn đồng tình với tác giả Phan Anh Dũng ở nhiều điểm.

      Tôi luôn hoan nghênh các ý kiến góp ý.
      Sự thực tôi cũng nghiêng về giả thuyết là người Việt thời cuối Hùng Vương đã có chữ viết, nhưng chưa dám cả quyết là kiểu chữ tượng hình giống chữ Hán hay chữ ghi âm gốc tiếng Phạn như chữ Thái.

      Chữ Nho đọc theo âm Hán Việt hiện nay chúng ta đang dùng có thể chỉ mới từ thời kì của nhà nước “Nam Chiếu” ở thế kỉ 9-10 hoặc trước đó một chút. Có thể đọc theo âm Hán-Việt chính là thời kì nhà Trần từ Hồ Nam Phúc Kiến về.
      Hệ thống âm Hán Việt theo GS Nguyễn Tài Cẩn là ngữ âm Hán khoảng cuối đời Đường thế kỷ 9-10, nếu bạn Trân Lang có thể chứng minh được giả thuyết hệ thống đó hình thành vào thời Trần thì nên viết thành luận văn TS để cải chính lại GS Cẩn.

      Tôi đã tìm hiểu và kinh ngạc khi thấy rằng tiếng Hán chính là tiếng Thái cổ chứ không phải là tiếng Thái có yếu tố Hán.
      Nếu đúng thì đây là một công trình nghiên cứu có thể thay đổi tận gốc các sách giáo khoa ngôn ngữ học Đông phương, được các nhà ngôn ngữ học quốc tế xây dựng từ hơn một thế kỷ nay. Bạn có thể gởi cho tôi xem trước các tư liệu chứng minh chính của công trình nghiên cứu này không ?
      Nếu bạn chưa muốn công bố thì tôi chỉ xin được “bật mí” vài câu: tiếng Thái cổ gọi nước (chất lỏng để uống ấy mà) là “thủy” hay là “nặm” ? Ngược lại, người Thái cổ gọi “trời” là “thiên” hay là “phạ” ?

      Một chi tiết anh Dũng chưa tìm hiểu là Điện Biện là nơi có người Việt cổ ở và sáng tạo ra một nền văn minh trống đồng phong phú nhất mà ở các nơi khác chưa tìm thấy nhiều như vậy. Bảo tàng mới đưa vào được 18 trống đồng cùng thời với Cổ Loa, kiến trúc thành cổ giống y hệt Cổ Loa.
      Thông tin này rất lý thú, các nghiên cứu di truyền ADN cho thấy người Xingmun ở vùng Sầm Nưa (xưa thuộc VN, nay thuộc Lào) và vùng Sơn La tiếp giáp Sầm Nưa có tỉ lệ nhóm nhiễm sắc thể M88 đặc trưng của người Kinh rất cao, đến 68%. Khu vực này có thể chính là cái nôi của dân tộc Kinh, mà Sơn La lại tiếp giáp với Điện Biên (thành phố Sơn La cách Điện Biên chưa đến 100km theo đường thẳng), nên việc người Việt cổ có mặt ở Sơn La, Điện Biên là có thể, nhưng dầu sao cũng cần có các tư liệu chứng minh chính xác, chứ chỉ dựa vào trống đồng thì ở Vân Nam, Quảng Tây TQ cũng có.

      Tôi khẳng định người Thái là chủ sở hữu của chữ viết hiện nay nhưng không phải là chủ nhân sáng tạo ra nó. Anh nghĩ thế nào khi người Mường cũng có sử dụng và sở hữu loại chữ này? Đặc biệt các phụ âm, nguyên âm, vần, thanh điệu tiếng Thái VN gần như trùng khít với các đơn vị này ở tiếng Việt và tiếng Mường?

      Tư liệu về người Mường có sử dụng chữ Thái là một tư liệu rất quan trọng, bạn Trân Lang hãy viết bài công bố đi. Chẳng hạn nếu sử thi “Đẻ đất đẻ nước” của người Mường có 1 bản ghi chép bằng chữ Thái thì cực kỳ quý báu.

      ==
      Cuối cùng, theo bạn Trân Lang thì người Lào và Thái Lan cũng đã mượn chữ chữ viết của người Việt cổ ? Vì 3 hệ thống chữ viết Thái Lan-Lào-Thái Đen (VN) có nhiều điểm rất gần gũi, ví dụ.
      - Tự dạng nhiều chữ cái như b, h, a, ay … rất giống nhau
      - Nguyên âm thường viết thành dạng các dấu nhỏ nằm trên, dưới, trái, phải phụ âm (và cũng như chữ Khmer, Chăm)
      - Phụ âm có phân biệt tổ cao, tổ thấp
      .v.v.

  9. Trân Lang Tháng Mười Một 27, 2013 lúc 3:57 sáng

    Anh Dũng và các bạn thân mến!
    Có một sự kiện đáng lưu ý về lịch sử người Thái và vùng Mường cổ. Đó chính là các địa danh có cổ vật trống đồng, đồ đồng mà người Thái VN không phải là chủ nhân vì tận gần đây mới chiếm các vùng đất này. Chính là Vân Nam, Điện Biên, Lào Cai, Yên Bái. Vậy trước khi họ chiếm cứ các vùng đất này thì nó đã có chủ rồi. Tôi đang rất băn khoăn, người ở vùng này tiếp xúc với văn hóa, chữ viết Ấn Độ, phật giáo Ấn Độ trước khi người Thái đến. Vùng giáp Lào của Điện Biên có nhiều tháp phật giáo nhưng cư dân thiểu số và người Thái ở đây tuyệt nhiên không hiểu về chúng. Mới đây phát hiện vô cùng nhiều trống đồng ở Điện Biên thì người Thái cũng chẳng có ấn tượng gì. Không biết trống có chữ như ở các vùng khác không? Người Thái đã có quốc gia riêng của mình là Nam Chiếu, sau này là Thái Lan,Lào. Vậy trước khi xuống Vân Nam họ ở tận phía Bắc, phía ấy không có nhà sàn. Tại sao bây giờ họ lại có nhà sàn? Người Mường kể việc làm nhà là do con rùa dạy bảo, nhà sàn có từ mấy ngàn năm rồi. Người Thái cũng có câu chuyện về con rùa dạy làm nhà??? Nhưng về rùa thì không còn ấn tượng nào khác, đặc biệt là liên quan đến kinh dịch và âm dương ngũ hành? Thế mới lạ. Một dân tộc và đất nước mới hình thành và có chủ quyền thì vùng đất và văn hóa bản địa nơi họ đến có ảnh hưởng nhất định đến ngôn ngữ, văn hóa… của họ. Điển hình như Thái Lan và Lào. Vậy Thái VN có ảnh hưởng gì không? Thái Vân nam sao không ảnh hưởng giống Thái Lan và Lào? Nếu không ảnh hưởng của Ấn Độ ở vùng Vân Nam thì có thể cho thấy phía đó ảnh hưởng của Ấn Độ và phật giáo sẽ xảy ra sau vùng Việt Nam… Và ảnh hưởng phật giáo vào VN và ĐNA thậm chí cả “Trung Hoa” sẽ từ phía Tây-Nam đi lên. Trong mối quan hệ biện chứng giữa Thái-Việt (Mường) xảy ra đó chắc chắn chúng ta sẽ trả lời được nguyên nhân và sự hình thành nhiều yếu tố của lĩnh vực văn hóa, ngôn ngữ, chữ viết…

Gửi phản hồi

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

%d bloggers like this: